Văn bản mới ban hành


6 điều kiện để nhà xây trái phép không bị tháo dỡ

đăng 18:46, 25 thg 6, 2018 bởi Nguyễn Đăng Phương

Ngày 24/04/2018, Bộ Xây dựng đã ra Thông tư 03/2018/TT-BXD quy định chi tiết Nghị định 139/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng…

Theo Thông tư này, cá nhân, tổ chức xây dựng nhà ở riêng lẻ sai nội dung giấy phép xây dựng; xây dựng không có giấy phép; xây dựng sai thiết kế, sai quy hoạch… vẫn được nộp lại số lợi bất chính để được cấp giấy phép hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng, thay vì phải tháo dỡ nếu đáp ứng đủ 06 điều kiện:

- Vi phạm xảy ra từ 4/1/2008 và kết thúc trước ngày 15/1/2018 nhưng sau ngày 15/1/2018 mới bị phát hiện hoặc bị phát hiện trước ngày 15/1/2018 và đã có biên bản xử phạt.

- Không vi phạm chỉ giới xây dựng

- Không ảnh hưởng các công trình lân cận

- Không có tranh chấp

- Xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp

- Nay phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Ngoài trường hợp nêu trên, từ ngày 15/01/2018, cá nhân, tổ chức xây dựng nhà ở riêng lẻ sai nội dung giấy phép xây dựng; xây dựng không có giấy phép; xây dựng sai thiết kế, sai quy hoạch… không còn được nộp lại số lợi bất hợp pháp mà phải tháo dỡ công trình nhà ở vi phạm.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 12/06/2018.

Xem chi tiết Thông tư 03/2018/TT-BXD tại đây

Nguồn: https://luatvietnam.vn

Nghị quyết 52/NQ-CP 2018 điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 Thành phố Cần Thơ

đăng 02:10, 18 thg 5, 2018 bởi Nguyễn Đăng Phương

Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của Cần Thơ

Chính phủ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) thành phố Cần Thơ tại Quyết định 52/NQ-CP ngày 10/05/2018.

Theo đó, quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) của thành phố Cần Thơ được điều chỉnh với các chỉ tiêu: Đất nông nghiệp với 109.690 ha chiếm 76,23%; đất phi nông nghiệp có 34.207 ha chiếm 23,77%; ngoài ra là đất chưa sử dụng, đất khu công nghệ cao, đất đô thị.

Diện tích chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp các năm 2018: 1.503 ha, năm 2019: 1.705 ha, năm 2020: 1.724ha.

Chính phủ giao UBND thành phố Cần Thơ thực hiện xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt; tăng cường tuyên truyền pháp luật đất đai để người sử dụng đất nắm vững các quy định của pháp luật; tăng cường thanh, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai, ngăn chặn, xử lý kịp thời các vi phạm trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ký.

Xem chi tiết Nghị quyết 52/NQ-CP tại đây

Nhà không phép, sai phép sẽ bị phá dỡ, không xử phạt cho tồn tại

đăng 22:41, 15 thg 1, 2018 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 23:21, 15 thg 1, 2018 ]

    Nếu như trước đây các công trình xây dựng sai phép, không phép được nộp phạt cho tồn tại thì nay quy định cho phép chủ nhà có 60 ngày để điều chỉnh hoặc xin cấp phép xây dựng đối với công trình xây dựng sai phép nếu không sẽ bị phá dỡ.

    Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh BĐS, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở... sẽ có hiệu lực từ ngày 15/1 tới.


Ảnh nguồn: Internet

    Theo đó, nếu như trước đây các công trình xây dựng sai phép, không phép có thể được nộp phạt để tồn tại thì nay, thì Nghị định 139 quy định cho phép chủ nhà có 60 ngày để điều chỉnh hoặc xin cấp phép xây dựng đối với công trình xây dựng sai phép.

    Đối với công trình đang xây dựng mà sai chỉ giới xây dựng, cơi nới lấn chiếm sẽ tháo dỡ ngay. Còn đối với công trình đang triển khai xây dựng và không vi phạm các yếu tố trên sẽ có 60 ngày để bổ sung thủ tục, nếu quá thời hạn trên, không có đầy đủ hồ sơ sẽ bị tháo dỡ những phần xây dựng sai phạm.

    Công trình xây dựng sai phép, không phép sẽ bị ngưng cung cấp điện, nước song song trình tự xử lý vi phạm trật tự xây dựng để tăng cường xử lý hiệu quả.

    Nghị định 139 cũng quy định đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Điều 57, khoản 3 quy định sẽ phạt tiền từ 250 - 300 triệu đồng đối với một trong các hành vi kinh doanh bất động sản mà bất động sản đó không đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định hoặc không được phép đưa vào kinh doanh theo quy định; kinh doanh bất động sản không đúng phạm vi được kinh doanh theo quy định; ủy quyền hoặc giao cho bên tham gia hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh hoặc góp vốn thực hiện ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê bất động sản.

    Ngoài phạt tiền nêu trên, sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung khi đình chỉ hoạt động kinh doanh bất động sản đến 12 tháng.

    Xung quanh vấn đề trên, tại Hội nghị triển khai Nghị định 139 do Bộ Xây dựng tổ chức tại TP.HCM ngày 11/1 vừa qua, đại diện Thanh tra Bộ Xây dựng cho biết, quy định lần này là dứt khoát việc xây dựng không phép, sai phép sẽ bị tháo dỡ, không có tình trạng phạt cho tồn tại như quy định trước đây.

     Theo Nghị định 139, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng là 1 tỷ đồng; trong lĩnh vực khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở là 300 triệu đồng.

Nguồn: landtoday.net

Ngưng hiệu lực thi hành Khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT

đăng 20:30, 4 thg 12, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 21:15, 4 thg 12, 2017 ]

dkddct.vnBộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 53/2017/TT-BTNMT quy định ngưng hiệu lực thi hành Khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai từ ngày 05 tháng 12 năm 2017 đến thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản quy phạm pháp luật mới quy định về vấn đề này.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 12 năm 2017.

Tổng cục Quản lý đất đai có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thi hành Thông tư này. Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

Mời xem thông tư tại đây

Nguồn: http://www.monre.gov.vn

Thông cáo báo chí về lùi thời hạn áp dụng quy định ghi tên người sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình tại Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT

đăng 20:28, 4 thg 12, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 20:28, 4 thg 12, 2017 ]

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và có hiệu lực từ ngày 05 tháng 12 năm 2017. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn là một trong những vấn đề được người dân quan tâm. Trong thời gian qua, nhiều giao dịch về quyền của người sử dụng đất đã bộc lộ nhiều vướng mắc, rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện giao dịch dân sự do quyền sử dụng đất của từng thành viên trong hộ gia đình không được xác lập cụ thể đối với trường hợp ghi tên hộ gia đình trên Giấy chứng nhận. Vì vậy, việc hướng dẫn chi tiết cách ghi từng tên từng thành viên có chung quyền sử dụng đất trong giấy chứng nhận của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT là điều cần thiết, cấp bách. Tuy nhiên, sau khi Thông tư được ban hành, dư luận và người dân có một số ý kiến băn khoăn về những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện; trong đó, lo ngại làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, gây phiền hà, nhũng nhiễu khi thực hiện… Để người dân có thêm thông tin đầy đủ về Thông tư này và việc áp dụng Thông tư trong thực tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường cung cấp một số thông tin như sau:

Trước hết, về tính hợp pháp của Thông tư số  33/2017/TT-BTNMT, Bộ Tài nguyên và Môi trường một lần nữa khẳng định: Việc hướng dẫn ghi tên các thành viên có chung quyền sử dụng đất đối với trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT là phù hợp với quy định tại Khoản 29 Điều 3, Khoản 1 Điều 97 và Khoản 2 Điều 98 của Luật Đất đai; Điều 101 và Điều 212 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Điều này, cũng đã được Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp khẳng định tại Công văn số 704/KTVB-KT ngày 29 tháng 11 năm 2017 về việc báo cáo kết quả kiểm tra Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT. Trong công văn,  Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp khẳng định: nội dung quy định này là có cơ sở pháp lý, phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013. “thống nhất cao việc Khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai được điều chỉnh cho trường hợp người có chung quyền sử dụng đất nói chung và thành viên hộ gia đình sử dụng đất có chung quyền sử dụng đất nói riêng. Đồng thời khẳng định quy định nêu trên tại Thông tư số  33/2017/TT-BTNMT là có cơ sở  pháp lý và phù hợp với Luật đất đai năm 2013”. Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cũng cho rằng, quy định này là đúng đắn, tiến bộ, xác định rõ ràng chủ thể  là thành viên có chung quyền sử  dụng đất được tham gia vào các giao dịch về  quyền sử dụng đất, giảm thiểu hạn chế vướng mắc, ngăn ngừa tranh chấp phát sinh trong các giao dịch về  quyền sử  dụng đất; nhằm minh bạch về  tài sản, hỗ trợ  tích cực cho việc xác định chính xác đối tượng được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, tránh thất thoát ngân sách Nhà nước, bảo đảm sự công bằng cho người sử dụng đất.

Bên cạnh đó, trên thực tế, do trước đây, pháp luật về đất đai hướng dẫn ghi đại diện của hộ gia đình sử dụng đất trên Giấy chứng nhận. Trong quá trình thực hiện các giao dịch về quyền của người sử dụng đất, việc ghi tên hộ gia đình trên Giấy chứng nhận như trên đã bộc lộ tồn tại, hạn chế như:

- Nhà nước còn gặp khó khăn khi thực hiện bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp của các thành viên hộ gia đình sử dụng đất khi có những rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện giao dịch dân sự do quyền sử dụng đất của từng thành viên trong hộ gia đình không được xác lập cụ thể;

- Phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp về quyền sử dụng đất của các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, trong khi việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp lại rất khó khăn do thiếu cơ sở pháp lý và thường kéo dài.

Trong quá trình triển khai thực hiện các quy định của pháp luật đất đai, một số Bộ, ngành liên quan đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ và phản ánh về Bộ Tài nguyên và Môi trường về bất cập của việc không ghi đầy đủ tên thành viên sử dụng đất chung của hộ  gia đình trên Giấy chứng nhận, đề nghị ghi đầy đủ tên các thành viên trong hộ gia đình có quyền sử dụng đất chung trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, ngày 09 tháng 12 năm 2016, tại Thông báo số 395/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát các quy định pháp luật liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chủ động sửa đổi, bổ sung Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT quy định về Giấy chứng nhận, tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện các giao dịch bảo đảm.

Quá trình xây dựng Thông tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã thực hiện theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bộ đã tổ chức các hội thảo, đăng tải nội dung dự thảo Thông tư trên trang Web, xin ý kiến của các Bộ: Tư pháp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đã xin ý kiến của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Về một số ý kiến băn khoăn của dư luận và vướng mắc có thể phát sinh khi áp dụng Thông tư:

(1) Nhiều người dân và dư luận hiểu nhầm quy định về tên các thành viên trong Sổ hộ khẩu và các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình được ghi trên Giấy chứng nhận.

Đối tượng áp dụng của quy định này chỉ điều chỉnh cho chủ thể sử dụng đất là “hộ gia đình” mà trong đó có các thành viên có chung quyền sử dụng đất; các trường hợp khác như quyền sử dụng đất của cá nhân, của vợ và chồng, dòng họ… thì vẫn áp dụng theo quy định hiện hành (Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT).

Việc ghi tên người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận đối vi quy đnh này chỉ  áp dng đi vi thành viên có chung quyn sử dng đt trong hộ gia đình theo quy đnh ti Khon 29 Điu 3 ca Lut Đt đai (theo đó, hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất) mà không phải là nhân khu trong Sổ hộ khu như dư lun lo ngại.

(2) Lo ngi phát sinh thủ tc hành chính

Quy định này chỉ hướng dẫn kỹ thuật cách ghi tên của người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận nằm trong thủ tục đăng ký lần đầu hoặc đăng ký biến động đã và đang áp dụng theo Bộ thủ tục hành chính đã được quy định và công bố công khai. Bộ TNMT khẳng định, việc áp dụng Thông tư này không làm phát sinh thêm bất cứ thủ tục nào.

Việc xác định thành viên của hộ gia đình có quyền sử dụng đất trước hết sẽ do hộ gia đình có nhu cầu thông qua việc kê khai vào Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận và các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có). Trên cơ sở đó, cơ quan nhà nước thực hiện việc ghi thông tin các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo quy định tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT.

(3) Lo ngại phải thực hiện cấp đổi đối Giấy đã cấp trước đây ghi tên hộ gia đình

Theo quy định của pháp đất đai Giấy chứng nhận đã cấp tại thời điểm trước đây theo quy định của pháp luật về đất đai vẫn có giá trị pháp lý người sử dụng đất không cần phải thực thủ tục cấp đổi. Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT không quy định việc phải cấp đổi này như lo ngại của dư luận.

Với mong muốn tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, và mỗi người dân đều hiểu rõ quyền, lợi ích của việc ghi tên từng thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình trên giấy chứng nhận; đồng thời để các địa phương có thêm thời gian chuẩn bị điều kiện triển khai thực hiện tốt hơn, hiểu chính xác và đầy đủ quy định trong thông tư 33/2017/TT-BTNMT, Bộ Tài nguyên và Môi trường với tinh thần cầu thị, lắng nghe, nghiên cứu và đánh giá kỹ về thực tế triển khai, đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép lùi thời gian có hiệu lực của quy định tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT đến thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản quy phạm pháp luật mới quy định về vấn đề này. Trong thời gian tới, rất mong các cơ quan báo chí hợp tác chặt chẽ, thông tin kịp thời và chính xác, về các thủ tục pháp lý liên quan đến Luật Đất đai và áp dụng các thông tư, quy định về Luật Đất đai hiện hành; để mỗi người dân có thể hiểu đúng, đủ, chính xác về quyền và lợi ích của mình đối với tài sản là quyền sử dụng đất.

Bộ Tài nguyên và Môi trường xin trân trọng thông báo tới các cơ quan báo chí và nhân dân được biết! 

 Nguồn: http://www.monre.gov.vn

Thông tin về quy định ghi tên các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất trên giấy chứng nhận

đăng 17:57, 23 thg 11, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương

Ngày 29/9/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai. Tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư này đã hướng dẫn việc thể hiện thông tin về người sử dụng đất đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình sử dụng đất. Quy định này của Thông tư sẽ bảo đảm chặt chẽ về mặt pháp lý, cụ thể hơn về mặt chủ thể có quyền sử dụng đất. Đồng thời không tạo ra các khó khăn hay rào cản mà còn giảm những rủi ro cho người sử dụng đất, minh bạch về tài sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình. Quy định này cũng không đặt thêm thủ tục hành chính khi thực hiện các quyền của hộ gia đình sử dụng đất như một số ý kiến đã nêu mà đảm bảo sự phù hợp với quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp này chỉ áp dụng đối với tài sản là của chung nhiều người trong gia đình. Trường hợp là tài sản chung của vợ và chồng thì ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người theo quy định tại Khoản 4 Điều 98 của Luật đất đai. Trường hợp cấp Giấy chứng đối với đất là tài sản của cá nhân thì phải ghi họ, tên của cá nhân đó.

Theo quy định tại Khoản 29 Điều 3 Luật đất đai thì “hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do đó, khi ghi Giấy chứng nhận thì chỉ thể hiện thông tin các thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình, các thành viên khác trong hộ gia đình không có chung quyền sử dụng đất (ví dụ như những người không phải là nhân khẩu mà Nhà nước đã xác định để giao đất cho hộ gia đình trước đây, người không có công đóng góp để tạo lập quyền sử dụng đất của hộ,…) thì không ghi trên giấy chứng nhận.

          Nội dung quy định tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư này là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 98 của Luật đất đai (thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện). Quy định này nhằm khắc phục những tồn tại trong thực tế triển khai thi hành Luật đất đai như tranh chấp, mâu thuẫn về quyền sử dụng đất giữa các thành viên trong hộ gia đình khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất; do khi xác lập quyền sử dụng đất của hộ gia đình chưa xác định rõ các thành viên có chung quyền sử dụng đất nên không có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, cũng như giải quyết các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất đai của hộ gia đình,....

Quy định nêu trên của Thông tư sẽ bảo đảm chặt chẽ về mặt pháp lý, cụ thể hơn về mặt chủ thể có quyền sử dụng đất. Điều này không tạo ra các khó khăn hay rào cản mà còn giảm những rủi ro cho người sử dụng đất, minh bạch về tài sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình.

Quy định nêu trên của Thông tư cũng không đặt thêm thủ tục hành chính khi thực hiện các quyền của hộ gia đình sử dụng đất như một số ý kiến đã nêu mà đảm bảo sự phù hợp với quy định của pháp luật về dân sự (Khoản 2 Điều 212 Bộ Luật dân sự quy định trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản là tài sản chung của gia đình thì phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ).

Bộ Tài nguyên và Môi trường xin trân trọng gửi thông tin tới các cơ quan báo chí để thông tin tới Nhân dân. Mọi thông tin cần làm rõ thêm đề nghị liên hệ với ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai, điện thoại 0917369869./.

 Nguồn: http://www.monre.gov.vn

Thông tin báo chí về bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai

đăng 17:54, 23 thg 11, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương

    Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 2555/QĐ-BTNMT về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo Quyết định này, lĩnh vực đất đai có 48 thủ tục đối với địa phương đã thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai; 70 thủ tục đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai. Trong đó, so với bộ thủ tục hành chính cũ thì thời gian thực hiện một số thủ tục hành chính về đất đai mới đã được cắt giảm từ 1/3 đến 1/2 thời gian.

    Cụ thể như sau:                      

    - Thủ tục Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của tổ chức đầu tư xây dựng là không quá 15 ngày giảm 15 ngày (quy định trước đây là không quá 30 ngày).

    - Thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi thay đổi tài sản gắn liền với đất là không quá 15 ngày giảm 05 ngày so với quy định trước đây.

    - Thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để thi hành án; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức, chuyển đổi công ty; thỏa thuận hợp nhất hoặc phân chia quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, của vợ và chồng, nhóm người sử dụng đất là không quá 10 ngày, giảm 05 ngày.

    - Thủ tục tách thửa, hợp thửa đất; thủ tục đăng ký đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất để quản lý là không quá 15 ngày giảm 05 ngày.

    - Thủ tục gia hạn sử dụng đất là không quá 07 ngày, giảm 08 ngày.

    - Thủ tục xác nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân khi hết hạn sử dụng đất là không quá 05 ngày giảm 05 ngày.

    - Thủ tục đăng ký biến động do đổi tên người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất hoặc thay đổi hạn chế quyền sử dụng đất hoặc thay đổi về nghĩa vụ tài chính hoặc thay đổi về tài sản gắn liền với đất so với nội dung đã đăng ký là không quá 10 ngày giảm 05 ngày.

    - Thủ tục xóa đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là không quá 03 ngày, giảm 02 ngày.

    - Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng là không quá 05 ngày, giảm 05 ngày.

    - Cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng là không quá 07 ngày, giảm 03 ngày.

    - Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng bị mất là không quá 10 ngày, giảm 20 ngày.

    Đồng thời để rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, quy định rõ thời hạn Văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế là không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; thời hạn cơ quan thuế thông báo nghĩa vụ tài chính cho người sử dụng đất không quá 05 ngày kể từ ngày nhận được thông tin địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến.

    Bộ Tài nguyên và Môi trường trân trọng gửi các cơ quan thông tấn, báo chí để thông tin đến nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp biết, thực hiện./.

Nguồn: http://www.monre.gov.vn

Quy định mới về thu tiền đất khi chuyển mục đích sử dụng

đăng 18:18, 15 thg 11, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 18:56, 15 thg 11, 2017 ]

Hộ gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp nhưng có nguồn gốc là đất ở sang đất ở của hộ gia đình, cá nhân thì không phải nộp tiền sử dụng đất.


    Quy định trên vừa được Chính phủ quy định cụ thể tại Nghị định số 123/2017/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

    Nghị định nêu rõ, nếu chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có nguồn gốc nhận chuyển nhượng đất ở của hộ gia đình, cá nhân sang đất ở để thực hiện dự án đầu tư từ ngày 1/7/2014 trở về sau thì nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo quy hoạch xây dựng chi tiết của dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trừ tiền sử dụng đất tính theo quy hoạch xây dựng chi tiết xây dựng nhà ở của hộ gia đình, cá nhân tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

    Theo Nghị định số 123/2017/NĐ-CP, nếu chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (không phải là đất ở) có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài có nguồn gốc được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trước ngày 1/7/2004 sang đất ở để thực hiện dự án đầu tư từ ngày 1/7/2014 trở về sau thì nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở trừ tiền sử dụng đất tính theo giá đất tính thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê của đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (thương mại, dịch vụ) thời hạn 70 năm tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

    Về miễn, giảm tiền sử dụng đất, Nghị định số 123/2017/NĐ-CP bổ sung quy định, tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định cho phép miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai trước ngày 1/7/2014 khi chuyển nhượng dự án hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ngày 1/7/2014 trở về sau thì xử lý như sau:

    - Đối với trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

    - Trường hợp số tiền sử dụng đất đã được miễn, giảm không tính vào giá chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng tiếp tục thực hiện dự án thì người nhận chuyển nhượng tiếp tục được miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đầu tư cho thời gian còn lại của dự án.

    - Trường hợp người nhận chuyển nhượng không tiếp tục thực hiện dự án thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định đối với dự án sau chuyển nhượng. Trường hợp người chuyển nhượng đã thực hiện một phần nghĩa vụ tài chính về đất đai thì người nhận chuyển nhượng được kế thừa phần nghĩa vụ mà người chuyển nhượng đã nộp.

    Đối với trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người chuyển nhượng phải nộp đủ số tiền đã được miễn, giảm vào ngân sách nhà nước theo giá đất tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

 Nguồn: http://vneconomy.vn

Thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tài sản, quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm

đăng 18:13, 15 thg 11, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 18:15, 15 thg 11, 2017 ]

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 quy định thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tài sản, quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm.


Nghị định nêu rõ các biện pháp bảo đảm phải đăng ký gồm: a) Thế chấp quyền sử dụng đất; b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; d) Thế chấp tàu biển.

Các biện pháp bảo đảm được đăng ký khi có yêu cầu gồm: a) Thế chấp tài sản là động sản khác; b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; c) Bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua bán tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; mua bán tàu bay, tàu biển; mua bán tài sản là động sản khác có bảo lưu quyền sở hữu.

Nghị định cũng quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm. Theo đó, Cục Hàng không Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tàu bay.

Cục Hàng hải Việt Nam hoặc Chi cục hàng hải, Cảng vụ hàng hải theo phân cấp của Cục Hàng hải Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tàu biển.

Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai và Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản và các tài sản khác không thuộc thẩm quyền đăng ký của các cơ quan quy định trên.

Người yêu cầu đăng ký có thể nộp hồ sơ đăng ký biện pháp bảo đảm theo một trong các phương thức: 1. Qua hệ thống đăng ký trực tuyến; 2. Nộp trực tiếp; 3. Qua đường bưu điện; 4. Qua thư điện tử trong trường hợp người yêu cầu đăng ký đã được cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm.

Cơ quan đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm có trách nhiệm giải quyết hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin trong ngày nhận hồ sơ hợp lệ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì hoàn thành việc đăng ký, cung cấp thông tin ngay trong ngày làm việc tiếp theo; trường hợp phải kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, thì cũng không quá 03 ngày làm việc.

Nghị định cũng quy định cụ thể việc công bố thông tin về biện pháp bảo đảm. Theo đó, chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm bằng dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng công trình, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm gửi thông tin cho Sở Tài nguyên và Môi trường để công bố trên Trang thông tin điện tử của Sở này. Thông tin được công bố gồm: Tên dự án, địa chỉ của dự án, bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, tài sản bảo đảm, thời điểm đăng ký.

 Nguồn: https://thuvienphapluat.vn

Quy định về hạn mức tách thửa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp không phải là đất ở

đăng 20:32, 3 thg 10, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 20:45, 3 thg 10, 2017 ]

Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ vừa ban hành Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ngày 02 tháng 10 năm 2017 quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp không phải là đất ở.


Ảnh: Internet

Trong đó quy định cụ thể hạn mức tách thửa đất nông nghiệp gồm: đất trồng cây lâu năm, đất lúa và đất trồng cây hàng năm. Diện tích tối thiểu tùy theo đơn vị hành chính:

Diện tích tối thiểu được tách thửa đối với trường hợp thửa đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn (quy hoạch xã nông thôn mới), quy hoạch sản xuất nông nghiệp được phê duyệt:

- Đối với đất nông nghiệp là đất trồng cây lâu năm:

Phường thuộc quận: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 150 m2 trở lên.

Thị trấn thuộc huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 200 m2 trở lên.

Xã thuộc huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 300 m2 trở lên.

- Đối với các loại đất nông nghiệp là đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm

khác:

Phường, thị trấn thuộc quận, huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 500 m2 trở lên.

Xã thuộc huyện: Diện tích tối thiểu được tách thửa từ 1.000 m2 trở lên.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 16 tháng 10 năm 2017.

Đối với các trường hợp tách thửa trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định này nhưng đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận.

File: Download

1-10 of 63