Tin tức


Những lưu ý khi mua nhà ở hình thành trong tương lai

đăng 18:11, 15 thg 11, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương

Hiện có nhiều dự án nhà ở hình thành trong tương lai mở bán và được chủ đầu tư công bố đầy đủ hồ sơ pháp lý. Tuy nhiên, không hẳn dự án nào cũng đầy đủ giấy tờ hợp pháp. Theo các chuyên gia, khách hàng cần yêu cầu chủ đầu tư cung cấp các văn bản dưới đây để nhận biết dự án có hoàn thiện pháp lý hay không.

Những lưu ý khi mua nhà ở hình thành trong tương lai

Những giấy tờ cần thiết phải xem

Khi đặt bút ký vào hợp đồng mua bán, hoặc xuống tiền mua nhà tại một dự án nhà ở hình thành trong tương lai, người mua nhà cần quan tâm tới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của chủ đầu tư, trong đó phải có ngành nghề kinh doanh bất động sản. Văn bản này sẽ đảm bảo chủ đầu tư có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện xây dựng và kinh doanh dự án bất động sản hay không.

Tiếp đến, thông qua hồ sơ pháp lý của dự án được cung cấp, người mua cần kiểm tra dự án đó có thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà ở của cơ quan có thẩm quyền hay không. Hồ sơ xác định chủ đầu tư đã hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuế liên quan đến đất. Nhiều khu chung cư hiện nay người dân không thể làm được sổ đỏ vì chủ đầu tư còn nợ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

Một trong những giấy tờ rất quan trọng khác mà người mua nhà cần phải yêu cầu chủ đầu tư cung cấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hoặc quyền thuê đất của chủ đầu tư. Khi có các giấy tờ này, tức là dự án đã có “đất sạch”, không có tranh chấp.

Giấy tờ tiếp theo người mua cần yêu cầu chủ đầu tư cho xem là giấy phép xây dựng của dự án (với trường hợp phải có giấy phép xây dựng). Nhiều dự án hiện nay xảy ra tình trạng xây dựng không phép và bị đình chỉ thi công, dẫn đến chậm tiến độ dự án.

Các loại giấy tờ này chủ đầu tư luôn phải có sẵn, khi người mua yêu cầu là có thể xuất trình. Từ các giấy tờ chủ đầu tư cung cấp, người mua có thể đối chiếu với thông tin từ các cơ quan có liên quan như Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc về dự án đang mở bán.

Gần đây, nhiều nhà đầu tư bất động sản rỉ tai nhau về cách nhận diện cơ sở pháp lý cho dự án định mua, đó là chủ động vay tiền ngân hàng, kể cả khi không có nhu cầu. Lý do là ngân hàng rất chặt chẽ trong cho vay, nên thông qua việc đi vay, người mua có thể “mượn tay” ngân hàng để thẩm định tính pháp lý của dự án định mua.

Những lưu ý khi ký hợp đồng

Bên cạnh hồ sơ pháp lý của dự án, trước khi ký hợp đồng mua bán, người mua cũng cần đọc kỹ các điều khoản của hợp đồng và cần lưu lý, người ký hợp đồng phải là người đại diện theo pháp luật hoặc người được người đại diện theo pháp luật của chủ đầu tư ủy quyền (có Giấy ủy quyền hợp pháp).

Trước khi ký hợp đồng mua bán, người mua cũng cần tìm hiểu xem dự án nhà ở hình thành trong tương lai đã đủ điều kiện mở bán chưa. Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, dự án nhà ở muốn mở bán phải có thông báo đủ điều kiện bán nhà do Sở Xây dựng cấp và chứng thư bảo lãnh của ngân hàng. Nếu thiếu một trong 2 loại giấy “thông hành” này, người mua cần thận trọng khi quyết định bỏ tiền mua nhà.

Ngoài ra, nhà đầu tư phải tìm hiểu về điều khoản thanh toán. Người mua phải lưu ý, đồng tiền thanh toán phải là VND, tiến độ thanh toán phải gắn với tiến độ hoàn thành từng phần xây dựng. Cho đến trước khi nhận bàn giao nhà, chỉ thanh toán tối đa 70% giá trị hợp đồng. Khi nhận nhà, thanh toán 90-95% giá trị hợp đồng, số còn lại thanh toán khi chủ đầu tư bàn giao Giấy nhận quyền sở hữu căn hộ (sổ hồng).

Ngoài ra, người mua nhà cũng nên tìm đến các chuyên gia tư vấn luật để được tư vấn chi tiết về hồ sơ pháp lý của dự án, nội dung của hợp đồng mua bán, xem có điều khoản nào mập mờ gây bất lợi cho người mua nhà hay không…

 Nguồn: Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLaw

Báo Đầu tư Bất động sản

Hướng dẫn mới về nghĩa vụ tài chính đối với chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội

đăng 17:59, 12 thg 10, 2016 bởi Nguyễn Đăng Phương

          Kể từ ngày 15/11/2016, việc hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính phải nộp cho nhà nước của chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP sẽ được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 139/2016/TT- BTC của Bộ Tài chính.

          Ngày 16/9/2016, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 139/2016/TT- BTC hướng dẫn miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, hoàn trả lại hoặc khấu trừ cho chủ đầu tư khi xây dựng nhà ở xã hội và phương pháp xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người mua, thuê mua được phép bán lại nhà ở xã hội. Thông tư này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2016.

          Điều 5 của Thông tư hướng dẫn quy định về hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính phải nộp cho nhà nước của chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Theo đó, việc hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính phải nộp cho nhà nước của chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP thực hiện như sau:

          1. Trường hợp Chủ đầu tư đã nộp tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất mà phần diện tích đó được xây dựng nhà ở xã hội thì được hoàn trả lại hoặc khấu trừ số tiền sử dụng đất đã nộp vào nghĩa vụ tài chính (tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất) phải nộp cho nhà nước khi thực hiện các dự án đầu tư khác; số tiền sử dụng đất đã nộp mà Chủ đầu tư được hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính (tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất) phải nộp cho nhà nước là số tiền sử dụng đất Chủ đầu tư đã nộp theo Thông báo hoặc văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.

          2. Trường hợp Chủ đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà phần diện tích đó được xây dựng nhà ở xã hội thì được hoàn trả lại hoặc khấu trừ số tiền này vào nghĩa vụ tài chính (tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất) phải nộp cho nhà nước;

          Số tiền Chủ đầu tư được hoàn trả lại hoặc khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính phải nộp cho nhà nước được xác định theo giá đất của mục đích sử dụng đất nhận chuyển nhượng tại thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc tại thời điểm cho phép sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội nhưng không vượt quá số tiền bồi thường, hỗ trợ đất tương ứng với trường hợp nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật đất đai.

          Giá đất của loại đất nhận chuyển nhượng được xác định bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất.

          3. Số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà Chủ đầu tư phải nộp khi thực hiện các dự án đầu tư khác (không phải dự án nhà ở xã hội) để thực hiện khấu trừ được xác định theo quy định của pháp luật đất đai.

          Trường hợp dự án đầu tư khác mà Chủ đầu tư được Nhà nước cho thuê đất và trả tiền thuê đất hàng năm thì số tiền thuê đất được khấu trừ sẽ quy đổi thành số năm, tháng hoàn thành nghĩa vụ tài chính nộp tiền thuê đất và được xác định là thời gian đã hoàn thành việc nộp tiền thuê đất hàng năm; việc xác định số tiền thuê đất trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai

 Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/

Nhà ở xã hội được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

đăng 02:19, 4 thg 6, 2016 bởi Nguyễn Đăng Phương

Đó là nội dung dự thảo thông tư hướng dẫn miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các dự án xây dựng nhà ở xã hội không sử dụng nguồn vốn ngân sách vừa được Bộ Tài chính hoàn thiện.

Trong đó bao gồm cả quỹ đất tối đa 20% tổng diện tích đất dự án xây nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại cũng được miễn.

Ngoài ra, toàn bộ diện tích đất xây nhà ở xã hội của các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị cũng được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Để được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, chủ đầu tư nộp hồ sơ đề nghị cho cơ quan thuế nơi có đất trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giao đất, cho thuê đất.

Hồ sơ đề nghị miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất gồm: đơn đề nghị được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; quyết định hoặc văn bản chấp thuận đầu tư, phê duyệt dự án đầu tư của cấp có thẩm quyền...

 Nguồn: Theo Tuổi Trẻ

Bán nhà xây thô chưa hoàn thiện mặt ngoài sẽ bị phạt 300 triệu đồng

đăng 22:37, 15 thg 12, 2015 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 19:03, 14 thg 4, 2016 ]

Chủ đầu tư bàn giao nhà khi chưa bảo đảm kết nối với hệ thống hạ tầng chung của khu vực; bàn giao khi chưa hoàn thiện toàn bộ phần mặt ngoài sẽ bị phạt 300 triệu đồng.

Đây là một trong những nội dung quan trọng trong dự thảo về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng đang được Bộ Xây dựng lấy ý kiến góp ý.

Còn hành vi triển khai xây dựng dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án kinh doanh bất động sản chậm tiến độ đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt sẽ bị phạt ở mức 120-150 triệu.Theo dự thảo, mức phạt tối đa 300 triệu đồng sẽ áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư bàn giao nhà khi chưa bảo đảm kết nối với hệ thống hạ tầng chung của khu vực hoặc bàn giao khi chưa hoàn thiện toàn bộ phần mặt ngoài (đối với trường hợp bàn giao nhà và công trình xây dựng thô). Đồng thời, mức phạt này cũng áp dụng khi bàn giao nhà hoặc công trình xây dựng cho khách hàng khi chưa hoàn thành việc xây dựng theo tiến độ ghi trong đự án được phê duyệt.

Mức phạt này cũng áp dụng với hành vi không làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên thuê mua, bên mua hoặc làm thủ tục chậm so với thời hạn quy định (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác). Đối với những trường hợp không cung cấp giấy tờ, hồ sơ pháp lý liên quan cho người thuê mua, mua nhà ở (trong trường hợp người thuê mua, mua nhà ở tự làm thủ tục) cũng bị áp dụng chung mức phạt này.

Nếu chủ đầu tư ký kết hợp đồng mua bán, thuê mua nhà hoặc công trình xây dựng mà không gắn quyền sử dụng đất với nhà, công trình xây dựng đó, hay không thông báo cho bên mua các hạn chế về quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng (nếu có) cũng bị phạt từ 60 đến 80 triệu đồng.

Ngoài ra, chủ đầu tư thực hiện đầu tư phát triển khu đô thị không tuân theo kế hoạch và chậm so với tiến độ được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hoặc chậm bàn giao dự án theo tiến độ đã được phê duyệt đều bị phạt tiền 40 - 50 triệu đồng.

Đồng thời, hành vi không công khai hoặc công khai không đầy đủ, không đúng các nội dung theo quy định về bất động sản hoặc không cung cấp thông tin về tiến độ đầu tư xây dựng, việc sử dụng tiền ứng trước khi có yêu cầu hoặc không cho phép bên thuê mua, bên mua được kiểm tra thực tế tại công trình đều có chung mức phạt 40-50 triệu đồng.

Dự thảo cũng cho biết, đối với hành vi vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ bất động sản cũng sẽ bị phạt từ 10 đến 50 triệu đồng.

Theo đó, các vi phạm liên quan đến chứng chi hành nghề môi giới bất động sản sẽ bị phạt 10-15 triệu đồng. Các vi phạm bao gồm việc kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản mà không có chứng chỉ, chứng chỉ đã hết hạn, sữa chữa, tẩy xóa, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề.

Trong khi mức phạt 40-50 triệu đồng sẽ áp dụng với các hành vi đưa bất động sản không đảm bảo đủ điều kiện vào kinh doanh lên sàn giao dịch; hoặc không cung cấp, cung cấp không đầy đủ, không chính xác hồ sơ, thông tin về bất động sản mà mình môi giới hoặc đưa lên sàn giao dịch bất động sản.

Khánh An



Ban hành Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP

đăng 22:20, 3 thg 3, 2015 bởi Nguyễn Đăng Phương

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ký ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.

Nội dung Thông tư quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển, đất có mặt nước ven biển; việc sử dụng đất đối với trường hợp chuyển đổi công ty, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp đã được Chính phủ giao trách nhiệm cho Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tại Khoản 3 Điều 48 và Khoản 3 Điều 83 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.

Bên cạnh đó, Thông tư này cũng quy định xử lý đối với một số trường hợp liên quan đến giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, bản đồ địa chính, thống kê, kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và giá đất nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong tổ chức triển khai thi hành Luật trong thời gian vừa qua.

Việc ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi Luật Đất đai để Luật đi vào cuộc sống.

Nguồn: http://www.monre.gov.vn/

Cải cách không chỉ có nghĩa giảm giấy tờ

đăng 17:54, 16 thg 7, 2014 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 17:56, 16 thg 7, 2014 ]

Có một sự hiểu nhầm khá dai dẳng ở các cán bộ thực hiện cải cách hành chính; họ nhầm tưởng cải cách hành chính là giảm bớt số lượng giấy tờ mà người dân hay doanh nghiệp phải khai hay nộp, là giảm bớt số ngày phải chờ hay số “cửa” phải đi qua.
Tất cả những việc đó đúng là có góp phần vào quá trình cải cách hành chính nhưng không phải là vấn đề chính. Nó chỉ mang tính số lượng chứ không phải chất lượng. Mấu chốt của cải cách hành chính nằm ở chỗ khác.

Nếu những ai có dịp tiếp xúc với thủ tục hành chính của những nước phát triển, kể cả Mỹ, Anh hay Nhật Bản đều có thể xác nhận, khối lượng giấy tờ cần có để hoàn tất một thủ tục hành chính là nhiều chứ không phải ít. Ví dụ, đơn xin cấp thị thực vào Canada một hai tuần để gặp đối tác kinh doanh có thể cần đến 12 loại giấy tờ. Thế nhưng không ai than phiền, hay đúng ra, ít ai than phiền thủ tục hành chính của các nước này rườm rà, phức tạp về mặt số lượng.
Đó là bởi, quy trình hoàn tất một thủ tục hành chính của họ, dù liên quan đến nhiều loại giấy tờ, lại được vạch ra rất rõ, ai làm đúng thì công việc cứ thế chạy đều, không cần xin và cũng không ai cho. Ai không làm đúng quy trình thì bộ máy đã lường trước các tình huống để điều chỉnh, hướng dẫn cho người ta bổ sung, chỉnh sửa.

Như vậy, cải cách hành chính, trước hết là cải cách quy trình thủ tục sao cho mọi việc minh bạch, rõ ràng, người tiếp nhận được huấn luyện kỹ để lường trước hết mọi tình huống, người tuân thủ biết họ phải làm gì, đi tới đâu, gặp ai, tiến hành những công đoạn nào. Một khi người dân hay doanh nghiệp hiểu rõ lộ trình họ phải làm thì dù thêm một loại giấy tờ hay thêm một hai ngày chờ đợi không phải là vấn đề lớn nữa.

Nguồn: Diễn đàn TBKTSG

Đẩy mạnh công khai thủ tục hành chính về đất đai

đăng 23:12, 1 thg 7, 2014 bởi Nguyễn Đăng Phương

Kể từ ngày 1/7, Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai có hiệu lực thi hành. Nghị định có nhiều bổ sung, điều chỉnh mới nhằm tăng hiệu quả, tính minh bạch, giảm bớt sự phiền hà cho người dân.


Nhiều đổi mới trong quy định về TTHC sẽ giảm phiền hà cho người sử dụng đất - Ảnh minh họa

8 loại thủ tục được giảm thời gian thực hiện 

Nghị định quy định việc tổ chức tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa để bảo đảm thực hiện thống nhất trong cả nước. Đồng thời, giảm thời gian thực hiện 5 ngày so với quy định hiện hành đối với các thủ tục cấp giấy chứng nhận; chuyển mục đích sử dụng đất; thực hiện các quyền:

- Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận (GCN) lần đầu không quá 30 ngày.

- Đăng ký, cấp GCN bổ sung đối với tài sản không quá 20 ngày.

- Đăng ký biến động trong các trường hợp: xác nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, đăng ký góp vốn; chuyển quyền của vợ hoặc chồng thành của chung hai vợ chồng là không quá 10 ngày.

- Cấp đổi GCN không quá 10 ngày.

- Tách thửa, hợp thửa đất; thủ tục đăng ký đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất để quản lý là không quá 20 ngày.

- Đăng ký xác lập hoặc thay đổi, chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề là không quá 10 ngày

- Chuyển từ hình thức thuê đất trả tiền hàng năm sang thuê đất trả tiền một lần; từ hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang hình thức thuê đất; từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất là không quá 30 ngày.

- Xóa đăng ký góp vốn là không quá 5 ngày làm việc.

Nghị định cũng phân cấp cho địa phương quy định cụ thể thời gian thực hiện thủ tục hành chính để phù hợp với thực tế tại từng địa phương.

Bãi bỏ một số thủ tục, giấy tờ không cần thiết

Điểm đáng chú ý, Nghị định đã bổ sung quy định việc công khai thủ tục hành chính về đất đai để bảo đảm sự minh bạch trong thực hiện, giảm sự phiền hà cho người dân.

Đồng thời bổ sung một số thủ tục tạo điều kiện bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất như thủ tục chuyển từ hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm sang hình thức thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê; thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ hoặc của chồng thành quyền sử dụng đất chung, quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng; hay việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề bao gồm quyền về lối đi; cấp, thoát nước; tưới nước, tiêu nước trong canh tác…

Về hình thức thực hiện thủ tục, có thêm quy định về hình thức đăng ký điện tử để làm cơ sở pháp lý cho thực hiện trong điều kiện công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển, giải quyết rốt ráo việc cấp GCN cho người sử dụng đất.

Nghị định cũng bãi bỏ việc UBND xã xem xét xác nhận tranh chấp sử dụng đất đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ về quyền sử dụng đất (đất rừng, đất trồng lúa, đất ven sông, ven biển…).

Bãi bỏ thủ tục đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Khoản 2 Điều 36 của Luật hiện hành. Ngoài ra, một số giấy tờ không cần thiết hoặc gây thêm phức tạp trong hồ sơ thực hiện một số thủ tục cũng đã được bãi bỏ.

Nếu như trước đây thủ tục hành chính quy định ở nhiều Nghị định thì nay được quy định cụ thể tại 18 Điều trong Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Tổng số thủ tục chỉ còn là 24 thủ tục chung cho cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và không phân biệt nơi nộp hồ sơ xã, phường.

Việc quy định như vậy là bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với quá trình cải cách tổ chức bộ máy cơ quan hành chính và điều kiện thực hiện trong từng thời kỳ, tránh tình trạng thủ tục quy định trong quá nhiều văn bản khác nhau, không thống nhất và khó thực hiện.

Bổ sung 8 loại giấy tờ để có thể được cấp sổ đỏ

Để làm cơ sở xem xét cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhằm giải quyết các vướng mắc và đảm bảo công bằng trên thực tế, Nghị định đã quy định bổ sung 8 loại giấy tờ về quyền sử dụng đất lập trước ngày 15/10/1993, cụ thể là:

- Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18/12/1980.

- Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ.

- Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được UBND các cấp huyện, tỉnh hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

- Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được UBND các cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

- Giấy tờ tạm giao đất của UBND cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được UBND cấp xã, HTX nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 1/7/1980 hoặc được UBND cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

- Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho người lao động tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho người lao động;

- Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ như đã nêu ở trên nhưng có xác nhận của UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan Nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.

Việc bổ sung quy định nêu trên sẽ bảo đảm hơn sự công bằng trong việc cấp GCN giữa trường hợp có cùng nguồn gốc sử dụng đất và trường hợp đã được cấp GCN mà có các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 nhưng vì các lý do khách quan mà người sử dụng đất không có các giấy tờ đó.

Quy định này cũng sẽ góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện nay trong thực hiện cấp GCN để bảo đảm hoàn thành việc cấp GCN trên phạm vi cả nước theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội.

 Nguồn : http://baodientu.chinhphu.vn/

Quốc hội thông qua Luật Đất đai sửa đổi

đăng 01:55, 29 thg 11, 2013 bởi Nguyễn Đăng Phương

Sáng 29/11, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) với 89,96% tổng số đại biểu tán thành.

Báo Điện tử Chính phủ xin giới thiệu toàn văn Luật Đất đai (sửa đổi).

Luật này quy định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; để phát triển kinh tế-xã hội, vì mục đích quốc gia công cộng.

Để thu hồi đất phải dựa vào căn cứ thu hồi đất quy định tại Điều 61, Điều 62 và kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.

Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định rõ thẩm quyền cho phép thu hồi đất nêu tại Điều 62 (thu hồi đất phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, mục đích quốc gia, cộng đồng) để tránh tùy tiện trong thu hồi đất.

Cụ thể, Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất các dự án quan trọng quốc gia.

Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất các dự án bao gồm: Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ còn có dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm: Giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải…

Đối với HĐND cấp tỉnh, Luật giao quyền chấp thuận các dự án phải thu hồi đất gồm: Dự án xây dựng trụ sở cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; công trình di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương.

Tiếp nữa là dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm: Giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng.

HĐND cấp tỉnh cũng được quyết thu hồi đất dành cho các dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.

Cơ quan Nhà nước quyết định giá đất

Luật Đất đai (sửa đổi) quy định “Giá đất do tư vấn xác định là một trong các căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định giá đất”.

UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá này.

Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp.

Căn cứ kết quả tư vấn giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình UBND cùng cấp quyết định. Hội đồng thẩm định giá đất gồm: Chủ tịch UBND cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại điện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn định giá đất.

Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 5 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp.

 Nguồn : http://baodientu.chinhphu.vn

 

Phải có giấy phép xây dựng mới được bán nhà dự án

đăng 18:50, 3 thg 10, 2013 bởi Nguyễn Đăng Phương

Dự thảo Luật Kinh doanh BĐS sửa đổi vừa được Bộ Xây dựng công bố đã bổ sung nhiều quy định chặt chẽ hơn đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh các dự án BĐS.

So với quy định cũ, dự thảo này có nhiều điều kiện đáng chú ý là ngoài một số quy định hiện hành về điều kiện để đưa dự án vào kinh doanh như: Phải bảo đảm chất lượng theo quy định của pháp luật về xây dựng; đối với nhà, công trình xây dựng đã qua sử dụng thì yêu cầu về chất lượng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; Không có tranh chấp về quyền sở hữu; Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Không nằm trong khu vực cấm xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng thì phải thêm một số quy định chặt chẽ hơn. Trong đó có việc kinh doanh, mua bán “nhà trên giấy”.

Cụ thể, theo luật hiện hành, để bán tài sản hình thành trong tương lai thì chủ đầu tư phải có "giấy phép xây dựng hoặc hồ sơ dự án và thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt". Còn theo dự thảo luật sửa đổi buộc chủ đầu tư các dự án BĐS, nhà ở hình thành trong tương lai phải có "hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng". Như vậy, luật hiện hành đã yêu cầu chủ đầu tư cần có cả hai thay vì chỉ cần một điều kiện như luật hiện hành.

Dự thảo Luật Kinh doanh BĐS cũng yêu cầu chủ đầu tư các dự án chỉ được phép ký hợp đồng bán, cho thuê, cho thuê mua BĐS hình thành trong tương lai khi đã có bảo lãnh của Tổ chức tài chính hoặc ngân hàng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho chủ đầu tư nếu chủ đầu tư không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình trong hợp đồng hai bên đã ký kết.

Ngoài một số quy định hiện hành về điều kiện để đưa dự án vào kinh doanh như không có tranh chấp, không nằm trong khu vực cấm, có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng…đối với công trình có sẵn. Đối với dự án thì phải có hồ sơ, bản vẽ thi công, tiến độ phê duyệt..

Dự thảo luật cũng bắt chủ đầu tư phải ký quỹ cam kết trước khi thực hiện dự án, trừ một số trường hợp được nhà nước giao đất, cho thuê đất để triển khai.

Ngoài ra, thay vì công khai thông tin tại các sàn giao dịch hoặc trên báo chí như luật hiện hành, dự thảo luật sửa đổi còn quy định các chủ đầu phải công khai thông tin tại dự án BĐS, trụ sở làm việc và trang tin điện tử của doanh nghiệp mình. Trường hợp kinh doanh qua sàn giao dịch BĐS thì còn phải công khai tại sàn giao dịch BĐS và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Nguồn : http://tamnhin.net/

Cấp GCNQSDĐ theo Chỉ thị số 1474/CT-TTg: Cần Thơ tiếp tục vượt lên

đăng 23:39, 23 thg 9, 2013 bởi Nguyễn Đăng Phương

Trong 7 tháng đầu năm 2013, TP.Cần Thơ đã tập trung thực hiện, nâng diện tích cấp GCNQSDĐ lần đầu cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn lên đạt tỷ lệ 98,54% (vượt 13,54% so với chỉ tiêu chung của Bộ Tài nguyên và Môi trường) và đứng thứ Nhì so với các tỉnh, thành cả nước. 

Trong tháng 8 và 15 ngày đầu tháng 9 thành phố tiếp tục nâng tỷ lệ tổng diện tích được cấp giấy trên địa bàn lên 98,75% (tương đương 136.166,715ha). Và hiện nay thành phố đang nỗ lực thực hiện, quyết tâm cấp thêm 3.000 giấy (tương được 479ha) để đạt tỷ lệ 99,06% tổng diện tích đất trên địa bàn được cấp GCNQSDĐ lần đầu - trước ngày 31/12/2013.

Huy động toàn hệ thống chính trị vào cuộc

Từ đầu năm 2013, Thành ủy Cần Thơ quán triệt đến các cấp ủy Đảng trực thuộc, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, Sở Tài nguyên và Môi trường đã kịp thời tham mưu UBND thành phố ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh công tác cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân đến UBND tất cả 9 quận, huyện trên toàn địa bàn. Theo đó, quy định cụ thể thời gian hoàn thành; giao chỉ tiêu cấp GCNQSDĐ cho từng quận, huyện. Hướng dẫn trình tự, thủ tục, nghiệp vụ chuyên môn; quán triệt các quận, huyện phải phấn đấu đạt chỉ tiêu nhưng không vì chạy theo số lượng mà lập khống danh sách, làm sai lệch hồ sơ... đặc biệt lưu ý trách nhiệm của người đứng đầu chấp hành các qui định pháp luật trong công tác cấp GCNQSDĐ.

Theo qui định, ngày 25 hàng tháng UBND các quận, huyện phải báo cáo kết quả cấp GCNQSDĐ và vướng mắc, khó khăn, kiến nghị để Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, báo cáo UBND thành phố, kịp thời giải quyết. Hàng quý, UBND thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường trực tiếp xuống các quận, huyện kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn lập các thủ tục cấp GCNQSDĐ cho những thửa đất đủ điều kiện, còn trường hợp thửa đất không đủ điều kiện vì nhiều lý do, như: Chủ đất không có ở địa phương, tranh chấp, thừa kế, nằm trong dự án đã có quyết định quy hoạch thì, lập danh sách ghi rõ họ tên, số thửa, diện tích...có xác nhận của chính quyền cấp xã, huyện để Sở nghiên cứu, kịp thời tham mưu UBND thành phố chỉ đạo giải quyết.

Giám đốc Văn phòng ĐKQSDĐ (Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ), Lê Văn Giao, cho biết: "Đối với các tổ chức, cơ sở tôn giáo, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi thông báo, nếu lần hai mà không đến thì Sở sẽ báo cáo UBND thành phố biết để có biện pháp xử lý người đứng đầu tổ chức vì không nghiêm chỉnh thực hiện chủ trương". Theo ông Giao, công tác tuyên truyền, vận động ở cơ sở được đẩy mạnh; chính sách cho ghi nợ tiền sử dụng đất, nợ lệ phí trước bạ, miễn thu lệ phí đo đạc, lệ phí cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân khi đến lập thủ tục để được cấp GCNQSDĐ lần đầu, đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân.

Tại quận Cái Răng - đơn vị đang dẫn đầu toàn thành phố về tỷ lệ cấp GCNQSDĐ lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân (đến ngày 25/7/2013, đạt 99,81% diện tích phải cấp), Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường - Nguyễn Trọng Quốc, cho biết nguyên nhân chủ yếu là Quận ủy, UBND quận đã kịp thời lập kế hoạch, chỉ đạo để tất cả các phường trên địa bàn, nhanh chóng tiến hành tổng hợp những trường hợp chưa cấp GCNQSDĐ lần đầu; yêu cầu hộ gia đình, cá nhân, xác định ranh mốc, chuyển về Phòng Tài nguyên và Môi trường cử cán bộ đến đo đạc, lập hồ sơ kỹ thuật để UBND phường xét duyệt, niêm yết công khai và sau đó chuyển về Phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc cấp GCNQSDĐ. "Đối với những hộ gia đình, cá nhân đang phát sinh tranh chấp ranh đất, do cầu toàn nên cơ quan có thẩm quyền thường chờ có kết luận giải quyết cuối cùng mới tiến hành cấp giấy mặc dù diện tích không tranh chấp, chưa được cấp GCNQSDĐ lớn hơn gấp hàng chục lần. Tuy nhiên, hiện nay những hộ gia đình, cá nhân này vẫn được cấp Giấy Chứng nhận phần đất không tranh chấp, còn phần đất đang tranh chấp, khi giải quyết xong sẽ điều chỉnh bổ sung..."- ông Quốc, nói.

Cũng như các quận huyện trên địa bàn thành phố, hiện tại quận Cái Răng còn 123 thửa đất (khoảng 3,7ha) chưa cấp được GCNQSDĐ, vì lý do nằm trong diện quy hoạch; đang tranh chấp hoặc thừa kế... nên quận sẽ tiếp tục rà soát, nếu có trường hợp nào đủ điều kiện thì cấp giấy, còn không sẽ lập danh sách báo cáo về Sở Tài nguyên và Môi trường để có hướng dẫn thực hiện.

 Tiếp tục giải quyết vướng mắc, khó khăn

Theo Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ - Nguyễn Văn Sử, tuy diện tích chưa cấp GCNQSDĐ lần đầu trên địa bàn chỉ còn 1,25%, nhưng lại thuộc những trường hợp rất phức tạp, liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất, chưa lập thủ tục thừa kế, chuyển nhượng bằng giấy tờ tay... "Từ nay đến ngày 30/9/2013, để đạt được mục tiêu nâng tỉ lệ cấp GCNQSDĐ lần đầu của toàn thành phố đạt 99% thì các cấp, các ngành phải tập trung nỗ lực, kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc, tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện thủ tục cấp giấy của UBND xã, phường, thị trấn và Văn phòng ĐKQSDĐ, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ"- Ông Sử, nhấn mạnh.

Cũng theo Giám đốc Nguyễn Văn Sử, những trường hợp không xác định được đối tượng đăng ký cấp GCNQSDĐ là Trạm Y tế, UBND xã, phường, thị trấn thì cần có văn bản xác nhận của UBND cấp quận, huyện để xác định đối tượng đăng ký cấp Giấy Chứng nhận lần đầu. Những trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy thì lập biểu mẫu thống kê cụ thể để Sở tham mưu UBND thành phố trình cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Để giải quyết những vướng mắc, khó khăn, gần đây UBND TP.Cần Thơ cũng đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác cấp GCNQSDĐ theo tinh thần Chỉ thị 1474/CT-TTg và Nghị quyết số 30 của Quốc hội. Phó Chủ tịch UBND TP.Cần Thơ - Đào Anh Dũng, chủ trì, chỉ đạo quyết liệt: "Các ngành, các cấp và chính quyền địa phương phải tích cực, khẩn trương và giải quyết dứt điểm những thửa đất tranh chấp hoặc những thửa đất chưa đủ điều kiện; tăng cường công tác tuyên truyền, rà soát, kiểm tra chặt chẽ việc cấp GCNQSD tại các địa phương, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và giải quyết kiến nghị cho các quận, huyện".

Nguồn : www.monre.gov.vn

1-10 of 151