Thông tin ngành


Dự kiến miễn lệ phí trước bạ đối với nhà tái định cư

đăng 17:05, 25 thg 11, 2018 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 17:11, 25 thg 11, 2018 ]

http://www.boergoatsindia.com/wp-content/uploads/2018/02/news-gif-5.gif
Tại báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến về dự án Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP của Chính phủ về lệ phí trước bạ (LPTB), Bộ Tài chính đề xuất vẫn giữ quy định miễn LPTB đối với nhà, đất tái định cư.

nhà tái định cư
Nhà tái định cư được bổ sung vào diện đối tượng được miễn lệ phí trước bạ. Ảnh: TL.

Tại dự thảo nghị định gửi xin ý kiến, Bộ Tài chính đã đề xuất bổ sung quy định miễn LPTB đối với trường hợp nhà, đất tái định cư. Trong các ý kiến góp ý gửi về Ban soạn thảo, có ý kiến đề nghị chỉ quy định miễn LPTB đối với phần giá trị được đền bù nơi bị thu hồi nhà, đất; đề nghị làm rõ nhà, đất từ thứ 2 trở lên mua bằng tiền được bồi thường, hỗ trợ có được miễn LPTB cho toàn bộ giá trị nhà, đất mua bằng tiền bồi thường, hỗ trợ hay chỉ miễn LPTB cho nhà, đất đầu tiên.

Theo Bộ Tài chính, tại Điều 83 và 86 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ, trong đó có hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu”.

Tại khoản 15 Điều 9 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP cũng quy định miễn LPTB đối với nhà, đất được bồi thường (kể cả nhà, đất mua bằng tiền được bồi thường, hỗ trợ) khi Nhà nước thu hồi nhà, đất theo quy định của pháp luật...

Vì vậy, để đảm bảo đồng bộ với quy định của pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật LPTB về miễn LPTB đối với trường hợp nhà, đất được bồi thường, tại dự thảo nghị định gửi xin ý kiến, Ban soạn thảo đề xuất bổ sung quy định miễn LPTB đối với trường hợp nhà, đất tái định cư như sau: “Nhà, đất được bồi thường, tái định cư (kể cả nhà, đất mua bằng tiền được bồi thường, hỗ trợ) khi Nhà nước thu hồi nhà, đất theo quy định của pháp luật”.

Theo đó, nhà, đất (không phân biệt nhà, đất thứ nhất hay thứ 2 trở đi) được mua bằng tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi nhà, đất thì được miễn LPTB khi đăng ký quyền sở hữu, sử dụng./. 

Nguồn: http://thoibaotaichinhvietnam.vn

 


Không được xây khách sạn trên đất ở?

đăng 18:39, 29 thg 3, 2018 bởi Nguyễn Đăng Phương

Tại TP.HCM, không ít trường hợp người dân có nhà ở, đất ở diện tích lớnkhu vực đông dân nên cho thuê để xây khách sạn, cao ốc văn phòng hoặc tự kinh doanh. Gần đây, Sở Xây dựng yêu cầu những trường hợp trên phải chuyển mục đích sử dụng đất thì mới cấp phép xây dựng. Người dân hoang mang, cơ quan quản lý đất đai lúng túng trước đề nghị này.

Phải chuyển thành đất kinh doanh mới cấp phép xây dựng

Năm 2017, Công ty Giải trí Miền Nam thuê khu đất tại 284-286 Vườn Lài, quận Tân Phú. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đây là đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài. Công ty này xin phép xây dựng công trình khách sạn thương mại dịch vụ tại địa điểm trên. Sau khi thẩm định hồ sơ, Sở Xây dựng ra thông báo đề nghị chủ đầu tư “liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp chức năng công trình và cập nhật biến động về việc cho thuê quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận theo đúng quy định pháp luật về đất đai trước khi thực hiện thủ tục đề nghị cấp phép xây dựng theo quy định”. Tháng 1-2018, Công ty Giải trí Miền Nam mua hẳn khu đất ở này. Thực hiện hướng dẫn của Sở Xây dựng, công ty này gửi văn bản đến Văn phòng Đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) TP về việc “chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp chức năng công trình”.

Tương tự, bà Trần Thị Như là chủ khu đất ở đô thị số 115-117 Tôn Thất Đạm, quận 1. Bà Như muốn xây dựng nhà ở kết hợp khách sạn và cũng được Sở Xây dựng hướng dẫn “phải chuyển mục đích sử dụng đất cho phù hợp với chức năng công trình”.

Không được xây khách sạn trên đất ở? - ảnh 1
Theo Sở Xây dựng, cao ốc văn phòng, khách sạn không được xây dựng trên đất ở, muốn cấp phép xây dựng thì đất ở phải chuyển mục đích. Ảnh: HTD

Tréo ngoe ở chỗ, các cơ quan quản lý đất đai đều từ chối yêu cầu trên. Văn bản trả lời của VPĐKĐĐ TP cho Công ty Giải trí Miền Nam khẳng định: “Đất ở chuyển sang đất làm khách sạn thì không thuộc trường hợp phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Tương tự, Phòng TN&MT quận 1 trả lời bà Như: “Trường hợp bà hỏi không thuộc quy định phải chuyển mục đích sử dụng. Khi bà hoàn tất công trình trên thì liên hệ Chi nhánh VPĐKĐĐ quận 1 lập thủ tục hoàn công theo đúng quy định”.

Đồng quan điểm, ông Lê Ngọc Tú, Giám đốc Công ty Nhà Bình Dân, cho rằng đất ở vốn được xếp loại có giá trị cao nhất trong các loại đất nên không phải chuyển mục đích nữa. “Cơ quan cấp phép xây dựng căn cứ quy định về quy hoạch để xem xét có cấp phép khách sạn, cao ốc văn phòng hay không” - ông bày tỏ.

Hết làm cao ốc, khách sạn: Lại xin làm đất ở?

Trao đổi với Pháp luật TP.HCM, một cán bộ Sở Xây dựng cho hay Điều 93 Luật Đất đai 2013 quy định: “Đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh là đất để xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ”. Mặt bằng này phải phù hợp “quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng…”. Căn cứ theo đó, đất ở không phải là đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh (để xây khách sạn, cao ốc văn phòng...). “Muốn thực hiện thì chủ đầu tư phải chuyển đất ở thành đất sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ” - ông giải thích. Theo ông, đất có giá trị thấp chuyển thành đất có giá trị cao hơn (như đất nông nghiệp thành đất ở) thì phải xin chuyển mục đích sử dụng đất. Trường hợp ngược lại thì không cần chuyển mục đích mà chỉ cần làm thủ tục đăng ký. “Sở yêu cầu theo quy định nhưng một số chi nhánh VPĐKĐĐ không hiểu nên không giải quyết cho người dân” - ông nhận xét.

Giải thích lại, ông Dư Huy Quang, Giám đốc VPĐKĐĐ TP, cho hay có nhiều vướng mắc về nội dung trên. Theo đó, Điều 57 Luật Đất đai 2013 quy định về những trường hợp phải xin chuyển mục đích sử dụng đất thì “không có trường hợp đất ở chuyển thành đất sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ”… Bên cạnh đó, quyền lợi của người dân sẽ ra sao nếu chuyển đất ở thành đất sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ. “Khi bên thuê đất làm cao ốc văn phòng, khách sạn trả lại đất sau khi hết hạn hợp đồng, hoặc chủ đầu tư muốn xây nhà ở thì chức năng khu đất lúc này ra sao? Có phải xin chuyển trở lại thành đất ở, có đóng tiền sử dụng đất lần nữa?” - ông bày tỏ. Trước những vướng mắc trên, ông Quang cho biết VPĐKĐĐ đã nhiều lần gửi văn bản báo cáo Bộ TN&MT để có hướng dẫn cho trường hợp này nhưng đến nay vẫn chưa được phản hồi.

Chưa có sự thống nhất trong quan điểm giải quyết, cũng chưa có hướng dẫn của Bộ TN&MT nên đến nay những trường hợp người dân có nhà ở, đất ở xin làm cao ốc văn phòng, khách sạn… vẫn đang gặp khó.

Nguồn: http://plo.vn

Thủ tướng chỉ thị chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai

đăng 17:34, 3 thg 1, 2018 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 00:38, 24 thg 1, 2018 ]

Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị 01/CT-TTg yêu cầu chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai.

          Chỉ thị nêu rõ, trong những năm qua công tác quản lý nhà nước về đất đai đã có nhiều chuyển biến tích cực, việc quản lý sử dụng đất đai ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, từng bước đi vào nề nếp, góp phần đáng kể vào sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng.

Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay, việc thi hành Luật Đất đai ở các địa phương vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, như: Việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai theo phân cấp chưa đầy đủ, kịp thời; một số nội dung quy định của pháp luật về đất đai thực hiện chưa nghiêm; việc lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất các cấp ở nhiều địa phương còn chậm; việc giao đất có thu tiền và cho thuê đất thông qua đấu giá đất còn hạn chế; việc giám sát sử dụng đất tại các dự án, công trình còn lỏng lẻo, nhiều trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng nhưng chưa được xử lý; việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng, đất nông nghiệp dành cho công ích còn nhiều bất cập...

Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Để chấn chỉnh và khắc phục tồn tại hạn chế nêu trên nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai và đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tập trung chỉ đạo rà soát, đánh giá đầy đủ tình hình triển khai thi hành pháp luật về đất đai ở các cấp, các ngành, trên cơ sở đó có kế hoạch, biện pháp cụ thể để chấn chỉnh, xử lý, khắc phục kịp thời những tồn tại, bất cập, hạn chế trong việc thực hiện từng nội dung nhiệm vụ quản lý đất đai ở địa phương.

Trong đó chú trọng xây dựng, ban hành đầy đủ các quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và các nghị định, thông tư theo phân cấp; đồng thời rà soát bãi bỏ, sửa đổi hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ, sửa đổi các quy định đã ban hành nhưng không phù hợp hoặc đã hết hiệu lực.

Khẩn trương triển khai, hoàn thành việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của các cấp bảo đảm chất lượng, đồng bộ, thống nhất và nâng cao tính khả thi; tăng cường việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các cấp và các đối tượng sử dụng đất; rà soát điều chỉnh hoặc hủy bỏ các dự án, công trình có trong kế hoạch hàng năm mà đã quá 03 năm nhưng chưa thực hiện theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất; rà soát các công trình, dự án đã có quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng còn tồn đọng chưa triển khai thực hiện được, nhất là các dự án, công trình trọng điểm và các trường hợp có quyết định thu hồi đất từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2014; làm rõ nguyên nhân và có kế hoạch, biện pháp khắc phục để thực hiện các dự án, công trình đầu tư.

Chấn chỉnh tình trạng giao đất không đúng quy định

Chấn chỉnh và xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, tính thu nghĩa vụ tài chính về đất đai không đúng quy định của pháp luật; cũng như đối với việc buông lỏng quản lý để xảy ra tình trạng lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép hoặc chậm đưa đất vào sử dụng mà không xử lý kịp thời; tổ chức rà soát các tổ chức kinh tế đã được nhà nước giao đất mà theo quy định của pháp luật đất đai thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất, các đơn vị sự nghiệp công lập đã tự chủ tài chính đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để chuyển sang thuê đất ngay theo đúng quy định của pháp luật.

Tăng cường chỉ đạo việc phối hợp và làm rõ trách nhiệm giữa các cơ quan định giá đất, Hội đồng thẩm định giá đất để tổ chức thực hiện tốt việc quản lý, xác định giá đất cụ thể bảo đảm chất lượng và thời gian yêu cầu;  thực hiện đúng quy định các trường hợp phải đấu giá đất, nhất là những khu đất “vàng” sau khi rà soát, sắp xếp lại các cơ sở nhà, đất của Nhà nước để chống thất thu cho ngân sách nhà nước và phòng chống tiêu cực, tham nhũng trong lĩnh vực này.

Đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính về đất đai ở địa phương để bảo đảm tính công khai, minh bạch, rút ngắn thời gian thực hiện; bãi bỏ, điều chỉnh các nội dung công việc và các loại giấy tờ không đúng quy định, không đúng thẩm quyền, kéo dài thời gian thực hiện, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện các giao dịch về đất đai; rà soát, thống kê đầy đủ các trường hợp còn tồn đọng chưa đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, các hồ sơ đã tiếp nhận nhưng chậm giải quyết; các giấy chứng nhận đã ký còn chưa trao cho người được cấp; làm rõ nguyên nhân và có kế hoạch, biện pháp cụ thể để hoàn thành giải quyết dứt điểm các trường hợp còn tồn đọng.

Xử lý nghiêm người đứng đầu buông lỏng quản lý đất đai

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu xử lý nghiêm người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị buông lỏng quản lý để xảy ra tình trạng lấn chiếm, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Tăng cường đẩy mạnh công tác điều tra, khoanh định các khu vực có khả năng sạt lở đất cao, nguy cơ đe dọa tính mạng con người, chủ động bố trí quỹ đất và có kế hoạch cụ thể để di dời người dân ra khỏi khu vực nguy hiểm.

Kiểm tra, rà soát, đánh giá lại tình hình quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích, kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những trường hợp cho thuê, cho mượn trái phép, sử dụng không đúng mục đích, không đúng đối tượng, không lập hồ sơ cho thuê đất công ích hoặc hồ sơ không đầy đủ, rõ ràng, không thực hiện đăng ký đất đai theo quy định.

Bên cạnh đó, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai và theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra đã ban hành để phát hiện, xử lý kiên quyết, dứt điểm các vi phạm, không để tồn tại kéo dài. Tập trung giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện đông người, kéo dài, gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và môi trường đầu tư; chủ động tiếp nhận, xử lý, giải quyết triệt để, kịp thời các trường hợp phản ánh của người dân về tình hình vi phạm pháp luật đất đai để người dân tham gia giám sát thi hành Luật Đất đai.

Khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

Đẩy mạnh và khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử để rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính, bảo đảm phục vụ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp khi tiếp cận đất đai thực hiện các dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật đất đai hiện hành để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hiện nay.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng sang làm việc khác theo đúng chỉ đạo của Ban Bí thư; chủ động đề xuất, kiến nghị thu hồi đất theo quy định của pháp luật đất đai đối với những dự án, công trình đã được giao đất, cho thuê đất mà qua công tác thanh tra, kiểm tra đã phát hiện không đưa đất vào sử dụng, gây lãng phí đất đai và bức xúc trong dư luận xã hội.

Thanh tra, rà soát tình hình quản lý, sử dụng đất quốc phòng trên phạm vi cả nước

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tư pháp rà soát, đề xuất sửa đổi các văn bản quy định về quản lý, sử dụng đất quốc phòng cho phù hợp với Luật Đất đai năm 2013 và đặc thù chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý II/2018; phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức kiểm tra, thanh tra, rà soát tình hình quản lý, sử dụng đất quốc phòng trên phạm vi cả nước; trường hợp có dấu hiệu sai phạm như sử dụng đất không đúng mục đích, cho thuê, cho mượn đất trái phép hoặc quản lý không chặt để bị lấn, bị chiếm đất thì kịp thời, kiên quyết xử lý theo quy định để quản lý chặt chẽ hiệu quả quỹ đất quốc phòng, đồng thời xử lý trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật và báo cáo kết quả kiểm tra, thanh tra, xử lý sai phạm (nếu có) với Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/11/2018.

Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát, tập trung giải quyết dứt điểm theo thẩm quyền các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai kéo dài đã nhiều năm và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ các giải pháp đồng bộ để phòng ngừa, hạn chế tình trạng này.

Nguồn: http://baochinhphu.vn

Ghi diện tích căn hộ chung cư vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

đăng 01:05, 24 thg 11, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương

Bộ Xây dựng đã có công văn 28/BXD-QLN (05/01), hướng dẫn Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi diện tích căn hộ chung cư vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. 

1. Ngày 19/5/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Tại khoản 3 Điều 7 của Thông tư này có quy định về việc ghi các thông tin trên giấy chứng nhận đối với căn hộ nhà chung cư, trong đó chỉ có hướng dẫn ghi “diện tích sàn sử dụng của căn hộ”theo hợp đồng mua bán căn hộ.

Tuy nhiên, ngày 25/11/2014, Quốc hội đã ban hành Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015). Trong đó, tại khoản 3 Điều 9 của Luật Nhà ở quy định rõ trường hợp là căn hộ chung cư thì trong giấy chứng nhận phải ghi cả diện tích sàn xây dựng và diện tích sử dụng căn hộ.

2. Hiện nay, một số địa phương và doanh nghiệp có phản ánh vướng mắc giữa cách ghi “diện tích sàn sử dụng căn hộ” quy định tại Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT và “diện tích sàn xây dựng căn hộ”“diện tích sử dụng căn hộ” quy định tại Luật Nhà ở. Để giải quyết vướng mắc này và nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về cấp giấy chứng nhận với pháp luật về nhà ở, Bộ Xây dựng đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, sửa đổi bổ sung khoản 3 Điều 7 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT quy định ghi cả “diện tích sàn xây dựng căn hộ” và “diện tích sử dụng căn hộ” đối với trường hợp là căn hộ chung cư cho phù hợp với khoản 3 Điều 9 của Luật Nhà ở 2014, cụ thể như sau:

Về diện tích sàn xây dựng căn hộ thì trước đây tại Thông tư số 03/2014/TT-BXD ngày 20/02/2014 của Bộ Xây dựng về sửa đổi, bổ sung Điều 21 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng đã có định nghĩa về diện tích sàn xây dựng căn hộ. Tuy nhiên, do nội dung này Luật Nhà ở 2014 không quy định cụ thể nên đề nghị hướng dẫn nội dung này theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Mẫu hợp đồng mua bán căn hộ chung cư ban hành kèm theo Thông tư số 03/2014/TT-BXD trước đây, cụ thể như sau: “Diện tích sàn xây dựng căn hộ chung cư được tính từ tim tường bao, tường ngăn chia căn hộ, bao gồm cả diện tích sàn có cột, hộp kỹ thuật nằm bên trong căn hộ”.

Về diện tích sử dụng căn hộ chung cư thì đề nghị thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật Nhà ở năm 2014, cụ thể như sau: “Diện tích sử dụng căn hộ hoặc phần diện tích khác trong nhà chung cư thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư được tính theo kích thước thông thủy bao gồm cả phần diện tích tường ngăn các phòng bên trong căn hộ, diện tích ban công, loogia (nếu có) và không tính diện tích tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, diện tích sàn có cột, hộp kỹ thuật nằm bên trong căn hộ. Khi tính diện tích ban công thì tính toàn bộ diện tích sàn; trường hợp ban công có phần diện tích tường chung thì tính từ mép trong của tường chung”.

Vấn đề này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp thu và đưa vào Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, cụ thể nội dung được quy định tại Khoản 7 Điều 6 như sau: 

7. Sửa đổi, bổ sung Điểm c Khoản 3 Điều 7 như sau:

“c) Diện tích sàn: ghi diện tích sàn xây dựng căn hộ, diện tích sử dụng căn hộ theo hợp đồng mua bán căn hộ và phù hợp với quy định của pháp luật về nhà ở;”

Nguồn: http://www.xaydung.gov.vn

Nghị định 53/2017/NĐ-CP: Giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp phép xây dựng

đăng 20:22, 14 thg 5, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 20:23, 14 thg 5, 2017 ]

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 53/2017/NĐ-CP quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng.

Theo đó, giấy tờ thuộc một trong các loại sau đây sẽ được xem là giấy tờ hợp pháp về đất đai để được cấp phép xây dựng: 

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của Luật đất đai 1987Luật đất đai 1993Luật đất đai sửa đổi 2001Luật đất đai 2003.

2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo quy định của Luật đất đai 2013Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009.

3. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định tại Nghị định 60/CP ngày 05/7/ 1994, Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994.

4. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định tại Pháp lệnh nhà ở 1991Luật nhà ở 2005Nghị định 81/2001/NĐ-CPNghị định 95/2005/NĐ-CPNghị định 90/2006/NĐ-CPNghị định 51/2009/NĐ-CPĐiều 31, Điều 32 Nghị định 43/2014/NĐ-CP; các giấy chứng nhận khác về quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng qua các thời kỳ.

5. Các loại giấy tờ đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận gồm: Các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013; Điều 18 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP và quy định tại khoản 16 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP hoặc giấy xác nhận của UBND cấp xã và được cơ quan đăng ký đất đai xác nhận đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

6. Giấy tờ về đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ sau ngày 01/7/2004 nhưng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, gồm: Quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Quyết định cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và hợp đồng thuê đất kèm theo (nếu có) hoặc giấy tờ về trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất hoặc Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Báo cáo rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất đối với trường hợp tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND tỉnh nơi có đất kiểm tra và quyết định xử lý theo quy định tại Điều 28 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

8. Giấy tờ về việc xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đối với trường hợp cấp giấy phép xây dựng để thực hiện xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo hoặc di dời các công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 27 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

9. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản chấp thuận về địa điểm xây dựng của UBND cấp huyện đối với công trình xây dựng biển quảng cáo, trạm viễn thông, cột ăng-ten tại khu vực không thuộc nhóm đất có mục đích sử dụng để xây dựng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

10. Hợp đồng thuê đất được giao kết giữa chủ đầu tư xây dựng công trình và người quản lý, sử dụng công trình giao thông hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giao thông đối với công trình được phép xây dựng trong phạm vi đất dành cho giao thông theo quy định của pháp luật.

11. Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp người sử dụng đất đã có giấy tờ hợp pháp về đất đai theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 này nhưng đề nghị được cấp giấy phép xây dựng sử dụng vào mục đích khác với mục đích sử dụng đất đã được ghi trên giấy tờ đó.

12. Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đề nghị của cơ quan cấp giấy phép xây dựng để xác định diện tích các loại đất đối với trường hợp người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 này nhưng trên các giấy tờ đó không ghi rõ diện tích các loại đất để làm cơ sở cấp giấy phép xây dựng.

Nghị định 53/2017/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/6/2017.

Nguồn: https://thuvienphapluat.vn

Tăng cường xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về nhà ở

đăng 20:18, 14 thg 5, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà vừa ký Công văn số 975/BXD-QLN gửi UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương về việc thực hiện quy định của pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư.

Nhà chung cư

Theo đó, để triển khai có hiệu quả các quy định của pháp luật liên quan đến việc quản lý, sử dụng nhà chung cư, nhằm giải quyết dứt điểm các tranh chấp, khiếu kiện phát sinh, Bộ Xây dựng đề nghị UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương khẩn trương thực hiện một số công việc:

Thứ nhất, tăng cường phổ biến, tuyên truyền các quy định của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13Nghị định số 99/2015/NĐ-CPThông tư số 02/2016/TT-BXD và Thông tư số 28/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng.

Thứ 2, căn cứ vào các quy định của pháp luật về nhà ở, ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan chức năng và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn thực hiện đúng các quy định của pháp luật về nhà ở.

Thứ 3, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về nhà ở như không bàn giao kinh phí bảo trì phần sở hữu chung, không bàn giao hồ sơ nhà chung cư cho Ban quản trị nhà chung cư, không tổ chức hoặc gây khó khăn trong việc tổ chức Hội nghị nhà chung cư, việc sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở, việc lấn chiếm không gian, xây dựng không đúng với quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt...

Thứ 4, chủ động giải quyết các vướng mắc, khiếu kiện, tranh chấp phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng nhà chung cư theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành để khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp lên cơ quan trung ương.

Đối với những nội dung cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, đề nghị UBND các tỉnh, TP trực Trung ương thuộc báo cáo về Bộ Xây dựng để xem xét sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Theo Bộ Xây dựng, ngày 25/11/2013, Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật Nhà ở số 65/2014/QH13, trong đó quy định nhiều nội dung liên quan đến việc quản lý, sử dụng nhà chung cư. Để hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, ngày 20/10/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Nhà ở và Bộ Xây dựng cũng đã ban hành Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/2/2016 về Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư. Hiện nay, nhiều địa phương có nhà chung cư đã chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định về quản lý, sử dụng nhà chung cư, từng bước đưa việc quản lý, sử dụng nhà chung cư đi vào nề nếp, giải quyết được các vướng mắc, tranh chấp, khiếu kiện phát sinh và tạo nếp sống văn minh, hiện đại cho người dân tại các đô thị. Ngày 16/6/2014, Bộ Xây dựng cũng đã ban hành văn bản số 1334/BXD-QLN đề nghị các địa phương đôn đốc các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan đến việc quản lý, sử dụng nhà chung cư trên địa bàn.

Tuy nhiên, qua theo việc thi hành các quy định về quản lý, sử dụng nhà chung cư trong thời gian vừa qua cho thấy, mặc dù pháp luật về nhà ở đã có các quy định cụ thể để xử lý các vướng mắc trong quá trình sử dụng nhà chung cư, nhưng tại một số địa phương vẫn còn xảy ra các khiếu kiện, tranh chấp giữa người dân với chủ đầu tư như việc tổ chức hội nghị nhà chung cư, việc thành lập và quyết định công nhận Ban quản trị nhà chung cư, việc lựa chọn đơn vị quản lý vận hành nhà chung cư..., làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương và tạo dư luận không tốt trong nhân dân.

Do vậy, Bộ Xây dựng đề nghị UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung nêu trên.

Nguồn: https://thuvienphapluat.vn

Quy định mới về tách thửa tại các địa phương

đăng 20:15, 14 thg 5, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương

UBND TP. Hồ Chí Minh và Bình Dương đang xem xét phê duyệt dự thảo quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất.

*TP.HCM:  Tách thửa từ 2.000m2 phải lập thành dự án

    Đó là một trong những nội dung mới được Sở TN&MT TP.HCM đưa vào dự thảo văn bản thay thế quyết định 33/2014.

    Dự thảo lần này cũng quy định việc tách thửa cho cả đất ở trong đô thị, đất ở nông thôn và đất nông nghiệp. Cụ thể theo dự thảo, thửa đất thuộc khu vực quy hoạch để sản xuất nông nghiệp được phép tách thửa, nhưng các thửa đất mới được hình thành và thửa đất còn lại phải đảm bảo diện tích tối thiểu 500m2. Riêng đối với đất nông nghiệp đã được quy hoạch để sản xuất nông nghiệp thì phải 1.000m2 mới được tách thửa. Trường hợp thửa đất thuộc khu vực không phù hợp quy hoạch để sản xuất nông nghiệp và thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và công bố thì không được tách thửa.

    Còn nếu thửa đất thuộc khu vực không phù hợp quy hoạch để sản xuất nông nghiệp và không thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và công bố thì người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định. Sau đó thực hiện tách thửa theo diện tích tối thiểu tương ứng với từng loại đất.

    Cũng theo dự thảo, đối với hộ gia đình, cá nhân sẽ căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để xem xét giải quyết tách thửa. Cụ thể là căn cứ quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2.000 hoặc quy hoạch nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để xem xét giải quyết.

    Trường hợp chưa có quy hoạch 1/2.000 thì căn cứ quy hoạch sử dụng đất, trong đó quy hoạch được duyệt xác định thửa đất ở thuộc ba loại đất: quy hoạch dân cư hiện hữu, dân cư hiện hữu chỉnh trang kết hợp xây dựng mới và dân cư hiện hữu kết hợp xây dựng mới thì được tách thửa.

    Đặc biệt, dự thảo còn có quy định có hướng “mở” đối với người sử dụng đất, đó là: “Trường hợp thửa đất có trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi đất để thực hiện dự án, sau ba năm chưa có quyết định thu hồi đất và cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất được tách thửa theo quy định”.

    Ngoài ra, Dự thảo quy định diện tích tối thiểu được tách thửa được giữ nguyên như tại quyết định 33. Theo đó, có phân chia theo 3 khu vực và hai loại thửa đất. Một là thửa đất ở hình thành sau khi tách thửa chưa có nhà ở. Hai là thửa đất ở hình thành sau khi tách thửa có nhà ở hiện hữu. Dự thảo lần này quy định rõ, đất ở có nhà hiện hữu phải là nhà ở được hình thành từ trước ngày quyết định 33 có hiệu lực (ngày 25-10-2014), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc đủ điều kiện để được công nhận quyền sở hữu nhà ở.

*Bình Dương: Tách đất ra hơn 5 thửa phải lập quy hoạch

    Theo dự thảo quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất đang được UBND tỉnh Bình Dương xem xé thông qua, 1 thửa đất nếu người sử dụng đất muốn tách thành 5 thửa trở lên thì phải lập quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch tổng mặt bằng trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

    Đối với đất ở, dự thảo giữ nguyên diện tích tối thiểu được phép tách thửa là: thửa đất mới phải từ 60m2 trở lên (tại các phường), 80m2 trở lên (tại các thị trấn) và từ 100m2 trở lên (tại các xã). Bề rộng và bề sâu thửa đất tối thiểu phải là 4m.

    Tuy nhiên, dự thảo đưa thêm quy định chặt chẽ hơn, chỉ cho tách thửa đối với thửa đất ở tiếp giáp đường đi do Nhà nước đầu tư hoặc quản lý (các thửa đất tiếp giáp lối đi chung do người dân tự mở không được tách thửa).

    Đối với một số trường hợp đất ở cá biệt sẽ được hội đồng tư vấn cấp huyện, thị xã, thành phố xem xét nhưng diện tích tối thiểu cũng không được nhỏ hơn 50m2 và bề rộng, chiều sâu tối thiểu cũng phải là 3m.

    Bên cạnh đó, dự thảo của tỉnh Bình Dương còn quy định đối với đất trồng cây hằng năm và cây lâu năm thì diện tích tối thiểu tách thửa là 300m2 (tại các phường), 500m2 (tại các thị trấn) và 1.000m2 (tại các xã).

    Dự thảo cũng bổ sung quy định mới là: đối với thửa đất nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn là đất nông nghiệp thì không bắt buộc phải tiếp giáp đường; đối với thửa đất nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là đất ở thì buộc phải tiếp giáp đường do Nhà nước đầu tư và quản lý.

    Dự thảo mới cũng buộc tổ chức hành nghề công chứng, văn phòng thừa phát lại và UBND cấp xã khi công chứng, chứng thực hợp đồng hoặc vi bằng để chuyển quyền sử dụng đất phải xác minh thông tin về khu đất, trong đó có quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa.

Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/

Vướng mắc trong cấp giấy hồng cho người nước ngoài

đăng 23:32, 19 thg 4, 2017 bởi Nguyễn Đăng Phương

Văn phòng đăng ký đất đai TP.HCM đang ngừng giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất (còn gọi là giấy hồng) cho người nước ngoài ký hợp đồng mua nhà sau ngày 10-12-2015.



Chung cư New Sài Gòn (H.Nhà Bè, TP.HCM), nơi ông K. Elias mua căn hộ nhưng chưa được sang tên, đăng ký sở hữu - 
Ảnh: TỰ TRUNG

Tháng 1-2016, ông K. Elias (quốc tịch Mỹ) mua căn hộ tại dự án khu căn hộ New Sài Gòn (H.Nhà Bè) đã có giấy hồng từ một chủ nhà người Việt Nam.

Ông Elias đã trả tiền mua nhà, đóng phí trước bạ nhà đất. Tuy nhiên, Văn phòng đăng ký đất đai TP cho biết chưa có cơ sở để chuyển quyền sở hữu căn hộ, đăng ký sở hữu cho ông Elias vì hiện chưa có danh mục các dự án nhà ở cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở.

Phải lách để cấp giấy hồng

Tương tự như ông K. Elias, ông C.Y.O. (quốc tịch Malaysia) mua căn hộ tại một dự án ở Q.7 và đã đến ở 3 năm. Chủ đầu tư của dự án cho biết toàn bộ cư dân người Việt mua nhà tại dự án này đã được cấp giấy hồng, chỉ riêng ông C.Y.O. chưa được cấp vì là người nước ngoài.

Nhiều chủ đầu tư cho biết chính sách của Nhà nước cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam, nhưng nay cơ quan đăng ký không làm thủ tục cấp giấy hồng cho khách khiến họ gặp khó khăn, mất uy tín với khách hàng.

Nhiều hợp đồng đã đến thời hạn giao giấy hồng nhưng không làm được thủ tục khiến khách hàng phản ứng, đòi thanh lý hợp đồng, đòi phạt chủ đầu tư.

“Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam nói riêng trong mắt người nước ngoài và ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh chung” - một chủ đầu tư dự án nói.

Để giải quyết thực trạng này, một số chủ đầu tư tìm cách lách quy định bằng việc chỉ để người vợ hoặc chồng (là người Việt Nam) đứng tên sở hữu căn nhà cho việc cấp giấy hồng được diễn ra suôn sẻ. Sau đó, hai vợ chồng làm một bản thỏa thuận căn nhà là tài sản chung của hai người.

“Đây là giải pháp tình thế tiềm ẩn nhiều rủi ro và không phải khách hàng nào cũng hiểu” - chủ đầu tư một dự án tại Q.Phú Nhuận than khó.

Chờ hướng dẫn

Nghị định 99 năm 2015 hướng dẫn Luật nhà ở (có hiệu lực ngày 10-12-2015) quy định người nước ngoài chỉ được sở hữu tối đa 30% số lượng căn hộ trong mỗi dự án chung cư hoặc 10% số lượng nhà liên kế trong mỗi dự án nhà ở liên kế.

Đặc biệt, những khu vực cần bảo đảm an ninh quốc phòng thì không được cho người nước ngoài sở hữu nhà ở. Các khu vực cần bảo đảm an ninh quốc phòng trên từng địa phương do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng xác định.

Trên cơ sở đó, sở xây dựng các tỉnh thành sẽ công bố danh mục các dự án nhà ở mà người nước ngoài được sở hữu nhà và công bố công khai để người dân, chủ đầu tư được biết. Cơ quan đăng ký quyền sở hữu nhà cũng căn cứ vào danh mục này để cấp giấy hồng cho người nước ngoài.

Tuy nhiên, Sở Xây dựng TP cho biết hiện Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chưa quy định về những khu vực cần bảo đảm an ninh quốc phòng nên sở này chưa thể công bố danh mục những dự án nhà ở mà người nước ngoài được mua nhà.

Sở Xây dựng đã báo cáo UBND TP.HCM việc này và kiến nghị UBND TP đề nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xác định khu vực cần bảo đảm an ninh quốc phòng nhưng đến nay vẫn chưa nhận được phản hồi.

Việc này kéo theo hệ quả là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất TP không có căn cứ để cấp giấy hồng cho người nước ngoài.

Theo Sở Tài nguyên - môi trường TP, những trường hợp người nước ngoài mua nhà, ký hợp đồng trước ngày nghị định 99 hướng dẫn Luật nhà ở có hiệu lực (10-12-2015), chưa bị ràng buộc bởi quy định về khu vực cần bảo đảm an ninh quốc phòng, hiện vẫn đang được sở này giải quyết cấp giấy hồng bình thường.

Những trường hợp ký hợp đồng mua nhà sau ngày 12-10-2015 hiện đang phải ngưng cấp giấy hồng.

Một cán bộ của Văn phòng đăng ký đất đai TP cho biết số lượng người nước ngoài mua nhà tại các dự án phát triển nhà ở đã được cấp giấy hồng (ký hợp đồng mua nhà trước ngày 10-12-2015) rất lớn.

Còn những trường hợp bị ngưng cấp giấy hồng dự kiến cũng rất nhiều nhưng vì Văn phòng đăng ký đất đai TP trả hồ sơ nên các chủ đầu tư chưa nộp, chưa đăng ký.

Theo vị này, các cơ quan chức năng cần sớm tháo gỡ vướng mắc nói trên để giải quyết thủ tục cấp giấy hồng thuận lợi cho người nước ngoài mua nhà, cải thiện môi trường đầu tư.

Nguồn: http://tuoitre.vn

Rà soát việc sử dụng đất và sẽ sửa Luật Đất đai

đăng 17:26, 29 thg 11, 2016 bởi Nguyễn Đăng Phương

Rà soát việc sử dụng đất và sẽ sửa Luật Đất đai

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu đề xuất sửa đổi Luật Đất đai năm 2013.

    Việc sửa đổi này nhằm tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, đồng thời để bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp để thực hiện cổ phần hóa.

    Thủ tướng cũng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; nghiên cứu xác định đầy đủ giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa, tính đầy đủ giá trị lợi thế (vị trí địa lý) vào giá trị để cổ phần hóa nếu doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm.

    Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát việc sử dụng đất của các doanh nghiệp cổ phần hóa, trường hợp doanh nghiệp chuyển mục đích sử dụng đất thì thực hiện bán đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của Điều 118, Luật Đất đai năm 2013, báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ trước ngày 01-02-2017.

Nguồn: http://tuoitre.vn/

Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức giao lưu trực tuyến với nhân dân và doanh nghiệp năm 2016

đăng 23:19, 27 thg 10, 2016 bởi Nguyễn Đăng Phương   [ đã cập nhật 23:19, 27 thg 10, 2016 ]

    Sắp tới vào ngày 7/11, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tổ chức Giao lưu trực tuyến với nhân dân và doanh nghiệp năm 2016 với chủ đề: “Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tài nguyên và môi trường nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho nhân dân và doanh nghiệp”. Thời gian tiếp nhận câu hỏi bắt đầu từ ngày 01/11.

    Giao lưu trực tuyến với Nhân dân và doanh nghiệp được Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai thực hiện từ năm 2005, là kênh thông tin quan trọng nhằm tiếp nhận, giải đáp những thắc mắc, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp, phát hiện và tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, bất cập trong công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.

    Đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cùng các Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thành công 16 đợt giao lưu trực tuyến với Nhân dân và doanh nghiệp với gần 531.000 lượt người truy cập vào Hệ thống giao lưu trực tuyến của Bộ và trên 580.000 lượt người truy cập vào các trang giao lưu trực tuyến của các Sở Tài nguyên và Môi trường; riêng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận và trả lời 14.249 câu hỏi.

Chi tiết Thông tin báo chí tải tại đây

Nguồn: http://www.monre.gov.vn/

1-10 of 61